Ngày 30 tháng 6, thuốc ức chế MET Vebreltinib do Avistone tự phát triển đã nhận được sự chấp thuận có điều kiện từ Cục Quản lý Sản phẩm Y tế Quốc gia (NMPA) Trung Quốc để điều trị cho bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC) giai đoạn tiến triển tại chỗ hoặc di căn có đột biến khuếch đại MET. Điều này đánh dấu chỉ định được phê duyệt thứ ba cho Vebreltinib tại Trung Quốc và là liệu pháp đơn chất đầu tiên trên thế giới được phê duyệt dành riêng cho bệnh nhân NSCLC có đột biến khuếch đại MET.

Việc phê duyệt Vebreltinib tại Trung Quốc cho chỉ định mới này—điều trị bệnh nhân mắc ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC) giai đoạn tiến triển tại chỗ hoặc di căn có khuếch đại gen MET—dựa trên kết quả tích cực từ Nhóm 2 và Nhóm 3 của nghiên cứu KUNPENG (NCT04258033).
Nhóm 2 chủ yếu bao gồm các bệnh nhân đã được điều trị trước đó mắc ung thư phổi không tế bào nhỏ có khuếch đại gen MET và thất bại với liệu pháp tiêu chuẩn (bao gồm cả hóa trị liệu dựa trên platin), trong khi Nhóm 3 chủ yếu bao gồm các bệnh nhân chưa từng điều trị mắc ung thư phổi không tế bào nhỏ có khuếch đại gen MET và từ chối hóa trị liệu.
Tổng cộng có 86 bệnh nhân mắc ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC) giai đoạn tiến triển tại chỗ hoặc di căn được tuyển chọn vào cả hai nhóm (33 bệnh nhân ở Nhóm 2 và 53 bệnh nhân ở Nhóm 3). Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ đáp ứng khách quan tổng thể (ORR) là 48,8%, tỷ lệ kiểm soát bệnh (DCR) là 77,9%, thời gian đáp ứng trung bình (DoR) là 12,1 tháng, thời gian sống không tiến triển trung bình (PFS) là 7,4 tháng và thời gian sống thêm trung bình (OS) là 13,9 tháng.
Trong Nhóm 2 (33 bệnh nhân đã được điều trị trước đó), tỷ lệ đáp ứng khách quan (ORR) là 48,5%, tỷ lệ kiểm soát bệnh (DCR) là 78,8%, thời gian đáp ứng trung bình (DoR) là 11,0 tháng, thời gian sống không tiến triển trung bình (PFS) là 6,2 tháng và thời gian sống thêm trung bình (OS) là 11,7 tháng.
Trong Nhóm 3 (53 bệnh nhân chưa từng điều trị), tỷ lệ đáp ứng khách quan (ORR) là 49,1%, tỷ lệ kiểm soát bệnh (DCR) là 77,4%, thời gian đáp ứng trung bình (DoR) là 12,1 tháng, thời gian sống không tiến triển trung bình (PFS) là 8,3 tháng và thời gian sống thêm trung bình (OS) là 15,5 tháng.
Trong nghiên cứu KUNPENG, 21 bệnh nhân có di căn não ban đầu đã được Ủy ban Đánh giá Độc lập (IRC) đánh giá. Trong số này, 10 bệnh nhân đạt được đáp ứng một phần (PR) được xác nhận, dẫn đến tỷ lệ đáp ứng khách quan (ORR) là 47,6%, tỷ lệ kiểm soát bệnh (DCR) là 85,7% và thời gian đáp ứng trung bình (DoR) là 11,0 tháng. Ngoài ra, thời gian sống không tiến triển trung bình (PFS) và thời gian sống thêm trung bình (OS) lần lượt là 8,3 tháng và 14,7 tháng.
Hiện nay, tại Trung Quốc vẫn còn nhiều thử nghiệm lâm sàng về các công nghệ chống ung thư mới đang tìm kiếm bệnh nhân. Để được tư vấn về các loại thuốc và công nghệ mới, bạn có thể liên hệ với Khoa Quốc tế, Bệnh viện Ung bướu khu vực Nam Bắc Kinh.
Số điện thoại: 4008803716
Email:myimmnet@163.com
Thời gian đăng bài: 08/07/2025
