GT101 là liệu pháp tế bào tự thân được tạo ra từ các tế bào lympho thâm nhiễm khối u (TIL) được nuôi cấy và trẻ hóa từ chính khối u của bệnh nhân. Liệu pháp này được thực hiện bằng cách thu hoạch mô khối u từ bệnh nhân và chiết xuất TIL. Các TIL được chiết xuất sau đó sẽ được nhân rộng bằng nền tảng sản xuất độc quyền StemTexp® của Grit Bio và truyền trở lại vào bệnh nhân để chống lại khối u.
Vào năm 2024Hội nghị thường niên của Hiệp hội Ung thư lâm sàng Hoa Kỳ (ASCO),Dữ liệu được báo cáo trên 14 bệnh nhân ung thư khối u rắn tham gia nghiên cứu GT101. Thử nghiệm được thiết kế với mục tiêu chính là đánh giá DLT và mô tả hồ sơ an toàn của GT101 ở bệnh nhân ung thư khối u rắn, được đo bằng tỷ lệ mắc các biến cố bất lợi phát sinh trong quá trình điều trị (TEAE) mức độ ≥ 3. Các mục tiêu phụ là đánh giá các thông số hiệu quả bao gồm tỷ lệ đáp ứng tổng thể (ORR), tỷ lệ kiểm soát bệnh (DCR), thời gian sống không tiến triển (PFS), thời gian đáp ứng (DOR) và thời gian sống thêm toàn bộ (OS) theo tiêu chuẩn RECIST v1.1.
Kết quả: Tính đến ngày 10 tháng 11 năm 2023, một nhóm gồm 14 bệnh nhân đã được điều trị với độ tuổi trung bình là 46,9 và trung bình 2,6 liệu trình điều trị trước đó. Sau khi thực hiện phương pháp giảm bạch cầu dựa trên FC tiêu chuẩn, bệnh nhân được truyền GT101 với liều ≥ 5×10⁹ tế bào và liều trung bình là 3,7×10¹⁰ tế bào, tiếp theo là truyền IL-2 liều cao. Hầu hết các tác dụng phụ (AE) độ ≥ 3 được quan sát thấy đều liên quan đến phác đồ điều trị FC và IL-2, bao gồm giảm số lượng tế bào lympho, giảm số lượng bạch cầu, giảm số lượng bạch cầu trung tính, thiếu máu, sốt và giảm số lượng tiểu cầu. Phần lớn các tác dụng phụ này đã hồi phục trong vòng 14 ngày, trong khi một số ít được giảm xuống độ ≤ 2 trong vòng 4 tuần. Trong số 14 bệnh nhân tham gia nghiên cứu với nhiều chỉ định khác nhau (ung thư phổi tế bào nhỏ, u hắc tố, ung thư cổ tử cung), tỷ lệ đáp ứng khách quan (ORR) là 35,7%. Cụ thể, 4 bệnh nhân (28,6%) có đáp ứng một phần (PR) được xác nhận, 1 bệnh nhân (7,1%) đạt đáp ứng hoàn toàn (CR), và 8 bệnh nhân (57,1%) có bệnh ổn định (SD) là đáp ứng tốt nhất. Một bệnh nhân có tiến triển bệnh (PD) chưa được xác nhận. Đáng chú ý, trong số 11/14 bệnh nhân ung thư cổ tử cung, tỷ lệ đáp ứng khách quan (ORR) là 45,5% (5/11) với 4 bệnh nhân (36,4%) đạt PR và 1 bệnh nhân (9,1%) đạt CR. Kiểm soát bệnh được quan sát thấy ở 10/11 bệnh nhân (90,9%), và thời gian sống không tiến triển trung bình (PFS) là 4,2 tháng cho nhóm này. Bệnh nhân đạt CR được theo dõi dài hạn và thời gian đạt CR và PFS (ước tính bằng phương pháp Kaplan-Meier) lần lượt là 24 tuần và 36 tuần. Sau khi truyền GT101, tế bào T tăng sinh mạnh mẽ trong máu ngoại vi của tất cả bệnh nhân với thời gian đạt đỉnh trung bình là 6,83 ngày và trung bình cộng là 15,9 ngày.

Kết luận: Trong nghiên cứu GT101 giai đoạn 1, không ghi nhận bất kỳ biến cố bất lợi nghiêm trọng (SAE) và độc tính giới hạn liều (DLT) nào liên quan đến điều trị. Ở những bệnh nhân mắc các khối u rắn tiến triển hoặc di căn đã được điều trị nhiều lần trước đó, GT101 cho thấy hồ sơ an toàn có thể kiểm soát được theo phác đồ điều trị giảm bạch cầu và IL-2 liều cao, cùng với hồ sơ lâm sàng thuận lợi, đặc biệt là trong ung thư cổ tử cung, với tỷ lệ đáp ứng khách quan (ORR) khả quan và thời gian đáp ứng kéo dài.
Hiện nay, tại Trung Quốc vẫn còn nhiều thử nghiệm lâm sàng về các công nghệ chống ung thư mới đang tìm kiếm bệnh nhân. Để được tư vấn về các loại thuốc và công nghệ mới, bạn có thể liên hệ với Khoa Quốc tế, Bệnh viện Ung bướu khu vực Nam Bắc Kinh.
Số điện thoại: 4008803716
Email:myimmnet@163.com
Tài liệu tham khảo
1.https://www.grit-bio.com/newsinfo/4620292.html
2.https://ascopubs.org/doi/10.1200/JCO.2024.42.16_suppl.2548
Thời gian đăng bài: 20/12/2024