Mới đây, GenFleet đã công bố dữ liệu giai đoạn II mới nhất của nghiên cứu KROCUS, sử dụng fulzerasib (GFH925, chất ức chế KRAS G12C) kết hợp với cetuximab để điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC) giai đoạn đầu, trong một bản tóm tắt đột phá tại buổi thuyết trình ngắn gọn của Hội nghị Ung thư Phổi Châu Âu (ELCC) thường niên năm 2025.
Fulzerasib là thuốc ức chế KRAS G12C đầu tiên do Trung Quốc phát triển, có hồ sơ đăng ký thuốc mới (NDA) được chấp nhận và được Cục Quản lý Dược phẩm Quốc gia Trung Quốc (NMPA) cấp chứng nhận ưu tiên xem xét. Fulzerasib cũng nhận được chứng nhận liệu pháp đột phá trong năm nay để điều trị cho bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC) giai đoạn tiến triển có đột biến KRAS G12C đã được điều trị ít nhất một liệu pháp toàn thân và bệnh nhân ung thư đại trực tràng (CRC) đã được điều trị ít nhất hai liệu pháp toàn thân. Họ protein RAS có thể được chia thành các loại KRAS, HRAS và NRAS. Đột biến KRAS được phát hiện ở gần 90% bệnh nhân ung thư tuyến tụy, 30-40% bệnh nhân ung thư đại tràng và 15-20% bệnh nhân ung thư phổi. Sự xuất hiện của nhóm đột biến KRAS G12C được quan sát thấy thường xuyên hơn so với các đột biến ALK, ROS1, RET và TRK 1/2/3 cộng lại. GFH925 là một chất ức chế KRAS G12C mới, hoạt động bằng đường uống, mạnh mẽ, được thiết kế để nhắm mục tiêu hiệu quả vào quá trình trao đổi GTP/GDP, một bước thiết yếu trong quá trình hoạt hóa con đường tín hiệu, bằng cách biến đổi dư lượng cysteine của protein KRAS G12C một cách cộng hóa trị và không thể đảo ngược. Các nghiên cứu tiền lâm sàng về tính chọn lọc cysteine đã chứng minh fulzerasib có tính chọn lọc cao đối với G12C. Sau đó, fulzerasib ức chế hiệu quả con đường tín hiệu hạ nguồn để gây ra hiện tượng apoptosis và ngừng chu kỳ tế bào khối u.
Tính đến ngày 14 tháng 1 năm 2025, tổng cộng 47 bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC) giai đoạn tiến triển có đột biến KRAS G12C chưa được điều trị trước đó đã được điều trị bằng fulzerasib kết hợp với cetuximab (fulzerasib 600mg BID + cetuximab 500 mg/m2 Q2W).
Hiệu quả: Tính đến ngày chốt dữ liệu, trong số 45 bệnh nhân được đánh giá khối u sau điều trị ít nhất một lần, tỷ lệ đáp ứng khách quan (ORR) là 80% và tỷ lệ kiểm soát bệnh (DCR) là 100%; 57,8% có khối u giảm kích thước ≥ 50%. 16 bệnh nhân (34%) bị di căn não; trong số 14 bệnh nhân di căn não được đánh giá khối u sau điều trị ít nhất một lần, tỷ lệ đáp ứng khách quan theo tiêu chuẩn RECIST 1.1 là 71,4%. Thời gian đáp ứng trung bình (DoR) chưa đạt được, và 24 bệnh nhân vẫn đang điều trị với thời gian theo dõi trung bình là 10,1 tháng. Thời gian sống không tiến triển trung bình (mPFS) là 12,5 tháng và thời gian sống thêm trung bình (mOS) chưa đạt được.


An toàn: Tính đến ngày chốt dữ liệu, liệu pháp kết hợp cho thấy hồ sơ an toàn/khả năng dung nạp thuận lợi. Các tác dụng phụ liên quan đến điều trị (TRAE) xảy ra ở 87,2% bệnh nhân và phần lớn các TRAE được xếp loại 1-2; 14,9% bệnh nhân gặp ít nhất một TRAE độ 3; không có TRAE độ 4-5. 2 bệnh nhân gặp các tác dụng phụ nghiêm trọng liên quan đến điều trị (TRSAE) và các TRSAE này được đánh giá là chỉ liên quan đến cetuximab; 3 bệnh nhân gặp TRAE không liên quan đến fulzerasib, dẫn đến ngừng thuốc. Nghiên cứu KROCUS cho thấy tỷ lệ ngừng hoặc giảm liều tương đối thấp trong các nghiên cứu kết hợp điều trị bước đầu khác nhau đối với NSLCL đột biến G12C. Không có tín hiệu an toàn mới nào được xác định so với fulzerasib hoặc cetuximab khi dùng đơn lẻ.
Hiện nay, tại Trung Quốc vẫn còn nhiều thử nghiệm lâm sàng về các công nghệ chống ung thư mới đang tìm kiếm bệnh nhân. Để được tư vấn về các loại thuốc và công nghệ mới, bạn có thể liên hệ với Khoa Quốc tế, Bệnh viện Ung bướu khu vực Nam Bắc Kinh.
Số điện thoại: 4008803716
Email:myimmnet@163.com
Thời gian đăng bài: 15/04/2025